Hướng dẫn nuôi cá trê trong bể xi măng chi tiết nhất

Nuôi cá trê trong hồ lót bạt, bể xi măng là hướng đi mới phù hợp với các hộ gia đình hạn chế về diện tích đất, không có ao nuôi. Ưu điểm của mô hình này là dễ chăm sóc, quản lý, hạn chế được nhiều dịch bệnh, các tác động trực tiếp của ngoại cảnh. Tuy nhiên đây là hướng đi khá mới nên bà con chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc chăm sóc, quản lý. Do đó để giúp các nông hộ giảm thiểu tối đa rủi ro, có kiến thức trong chăn nuôi, bài viết này sẽ hướng dẫn cụ thể, chi tiết cách nuôi cá trê trong bể xi măng, mời bà con cùng theo dõi.

Mô hình nuôi cá trê lai trong bể xi măng đang góp phần giúp nhiều hộ dân thoát nghèo

Trong những năm gần đây, cá trê thương phẩm được nhân rộng quy mô chăn nuôi trên nhiều địa bàn của cả nước, đem lại nguồn thu đáng kể cho các hộ dân. Mô hình nuôi cá trê của anh Nguyễn Văn Năm (Diên Khánh, Khánh hòa), sau những thất bại ban đầu do chưa có kỹ thuật, anh đã không ngừng hỏi hỏi, tích lũy. Bắt đầu nuôi trê lai trong bể xi măng từ năm 2014, đến nay mỗi lứa anh xuất bán gần 2 tạ cá, thu trên 10 triệu đồng. Anh Năm chủ yếu bán cho các nhà hàng, khách sạn, quán ăn,  các đơn vị chế biến thực phẩm…

Mô hình nuôi cá trê trong bể xi măng

Mô hình nuôi cá trê trong bể xi măng

Nông dân hai lúa Lưu Công trí ở Tân Phúc cũng là một điển hình. Sau khi trừ đi mọi khoản chi phí, mỗi lữa anh thu lãi khoảng trên 30 triệu đồng nhờ áp dụng đúng kỹ thuật nuôi trê trong bể xi măng.

Các loại cá trê và đặc điểm sinh học

Các loài cá trê nuôi phổ biến

Họ cá trê có nhiều loại khác nhau được nuôi trồng và lai tạo ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam hiện nay nuôi phổ biến 4 loại cá trê:

  • Cá trê đen – Clarias fuscus 
  • Cá trê vàng – Clarias macrocephalus Gunther 
  • Cá trê trắng – Clarias batrachus 
  • Cá trê phi – Clarias lazera

4 giống cá trê này đều có sức đề kháng cao vì có cơ quan “hoa quế”. Do đó nó có thể thích ứng tốt, sinh trưởng và phát triển ổn định trong nhiều môi trường khác nhau như: ao tù, mương rãnh, bể xi măng, bể lót bạt, nuôi ở nơi có hàm lượng oxy thấp.

Đặc điểm sinh học

– Cá trê đen – Clarias fuscus

Được nuôi phổ biến ở miền Bắc. Mùa đẻ từ tháng 3, tháng 4 và tháng 8, tháng 9. Nhiệt độ sống thích hợp từ 11-39,5oC; độ pH: 3,5-10,5; độ mặn dưới 15‰. Cá giống cỡ 15cm có khoảng 2000 trứng.

Cá trê đen có thịt ngon, bán được giá trị kinh tế cao nhưng sản lượng thấp. Cá trê đen hoạt động chủ yếu vào ban đêm, khi đi kiếm ăn chúng sẽ phát ra tiếng kêu “kèn kẹt”. Đặc biệt giống cá này hay sống thành đàn lớn, nuôi trong ao, mương rãnh hay có hiện tượng phá bờ, khoét lỗ chui rúc.

– Cá trê vàng – Clarias macrocephalus Gunther

Được nuôi phổ biến ở miền Nam nước ta. Giống cá này chậm lớn hơn cá trê trắng nhưng thịt lại thơm ngon, ngọt. Tuy nhiên cũng có hiện tượng hay phá bờ, trèo lóc đi vào lúc trời mưa.

Nuôi cá trê trong bể xi măng: Cá trê vàng

Cá trê vàng

– Cá trê trắng – Clarias batrachus

Cá trê trắng có đặc điểm là vây ở phần lưng và hậu môn không nối liền với vây ở phần đuôi. Sau khi chết, chúng sẽ chuyển sang màu trắng nhạt.

Thịt cá trê trắng không được ngon bằng trê vàng và trê đen. Do đó đây không phải là giống cá nuôi thương phẩm phổ biến.

– Cá trê phi – Clarias lazera

Cá trê phi có nguồn gốc từ châu Phi, sống ở hạ lưu sông Nin, các đầm, hồ lớn. Đây là giống cá có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, thân hình lớn được nhập vào Việt Nam từ năm 1875 và nuôi thử nghiệm ở miền Bắc. Cá nuôi thương phẩm khoảng 3 tháng đã có thể xuất bán.

Nuôi cá trê trong bể xi măng: Cá trê phi

Cá trê phi

Thịt cá thơm ngon, lại có sức đề kháng tốt nên người ta đã tiến hành lai tạo cá trê phi đực với cá trê vàng giống gốc bản địa để tạo ra dòng cá trê lai vàng có tốc độ sinh trưởng nhanh, thịt ngon, được ưa chuộng nhân nuôi với mô hình rộng lớn.

Bảng 1: So sánh chi tiết đặc điểm của các giống cá trê ở Việt Nam

 Các giống cá Trê đen Trê vàng Trê lai vàng Trê phi
Màu sắc Xám nâu Màu sẫm đồng nhất Màu vàng xám hoặc nâu vàng xám, bụng vàng nhạt Giữa có màu đen tro và có đốm đen
Thời gian nuôi (tháng) 6 – 7 7 – 8 3 – 4 2 – 3
Cá thương phẩm 100 – 150g/con 100 – 150g/con 150 – 200 g/con 250 – 1500g/con
Thân dài 20 – 30cm Thân dài 35 – 50cm

Kỹ thuật nuôi cá trê lai trong bể xi măng

Chuẩn bị bể xi măng thả cá

Cách xây hồ xi măng nuôi cá:

  • Hình dáng: bể xi măng hình chữ nhật.
  • Diện tích phù hợp nhất: 15 – 20m2
  • Độ sâu cần thiết: 1 – 1,5m
Bể xi măng nuôi cá trê

Bể xi măng nuôi cá trê

Xung quanh bể xi măng nên có lưới quây cao để đề phòng cá phi ra ngoài (đặc biệt là nuôi cá trê vàng).

Phía trên thiết kế mái che, có thể dùng mái xi măng tấm hoặc mái lá để giảm các tác động của ngoại cảnh (mưa, nắng gắt, gió lạnh…).

Nền bể xi măng nên xây với độ nghiêng khoảng 5 – 10% về phía ống thoát nước. Dưới nền trải một lớp cát dày khoảng 5 – 10cm để khi cá trê tiếp xúc với đáy bể xi măng không bị tổn thương, xước xát. Đồng thời cát cũng có chức năng lọc nước nên sẽ giúp bà con tiết kiệm được một lượng nước sạch để nuôi cá trê.

Điều kiện nuôi cá trê:

  • Độ mặn dưới 5 ‰
  • Độ pH từ 5,5 – 8,0
  • Có thể sống được trong môi trường oxy thấp từ 1 – 2mg/ lít (nhờ cơ quan hô hấp phụ)

Xử lý bể xi măng trước khi thả cá trê:

Nên hoàn thiện bể trước ít nhất 1 tháng khi nuôi cá. Tương tự như mô hình nuôi cá trê ở ao, trước khi thả cá, bể xi măng cũng cần được xử lý. Đối với bể cũ đã từng nuôi thì chỉ cần rửa sạch bằng nước, để ngâm nước khoảng 5 – 7 ngày sau đó tháo nước, rửa lại.

Đối với bể mới xây, bà con dùng phèn chua để ngâm trong bể mục đích làm giảm mùi của xi măng, loại bỏ vụn xi măng còn lại. Cũng ngâm khoảng 5 – 7 ngày thì tháo nước, rửa sạch, tiếp tục ngâm bằng nước bình thường 5 ngày tiếp theo. Xả đi, rửa lại lần cuối cùng là bà con có thể thả cá giống.

Chọn giống

Hiện nay, giống cá trê được nuôi thương phẩm phổ biến nhất là cá trê phi và cá trê vàng lai.  Bà con có thể xem xét lựa chọn nuôi hai giống này để đạt năng suất cao.

Bảng 2: Giá cá trê giống để bà con tham khảo (*):

Cá trê giống Giá
Trê vàng lai loại 150con/kg 55.000 – 75.000 đồng/kg
Trê phi loại 150con/kg 45.000 – 70.000 đồng/kg

*Mức giá trên đây có thể thay đổi theo từng địa phương, từng kích cỡ và từng trang trại chăn nuôi.

Nuôi cá trê trong bể xi măng: Chọn giống

Chọn giống cá trê

Khi chọn giống, chọn những con khỏe mạnh, không bị trầy xước, bơi lội lanh lợi.

Ở mỗi bể nuôi nuôi nên thả cá trê có kích thước đồng đều để chúng lớn nhanh, giúp bà con dễ dàng chăm sóc.

Để cá giống khỏe mạnh, trước khi thả vào bể, bà con nên ngâm cá trong dung dịch nước muối pha loãng 0,5 – 1% khoảng 5 phút để khử bụi bẩn, khử trùng.

Mùa vụ và mật độ thả

Nuôi cá trê tại nhà, bà con cũng thả vào thời điểm từ tháng 3 đến tháng 10 âm lịch.

Mật độ nuôi: 30 – 50 con/m2.

Thức ăn cho cá trê

Cá trê lai ăn gì? Đây là câu hỏi của bà con khi bắt đầu xây dựng mô hình nuôi cá trê lai trong bể xi măng.

Cá trê ăn tạp, chủ yếu thiên về các loại động vật. Bà con có thể tận dụng nguồn thức ăn  có sẵn trong tự nhiên, tự sản xuất thức ăn chăn nuôi để giảm chi phí, giúp tăng năng suất sau mỗi mùa vụ. Nguồn thức ăn mà bà  con cần chuẩn bị khi nuôi cá gồm:

– Thức ăn từ động vật: các loại tôm, cua, ốc, cá tạp, cá vụn có giá trị kinh tế thấp, trùn quế, giun đất, ếch, nhái…Tận dụng các nguồn phế phẩm từ lò mồ, các nhà máy chế biến thực phẩm tươi sống như: đầu vỏ tôm, da ruột mực, đầu lòng cá… Ngoài ra còn có phân gà.

– Thức ăn từ nông nghiệp: ngô, thóc, đậu tương…

– Thức ăn bổ sung: Chế phẩm sinh học, vitamin, premix khoáng…

Thức ăn có nguồn gốc từ động vật, đặc biệt lá cá vụn, cá tạp, bà con nên sử dụng máy cắt cá để cắt nhỏ thức ăn, giúp đàn cá dễ ăn, ăn được hết, tránh lãng phí. Đồng thời khi sử dụng máy móc, bà con sẽ không phải tốn công sức ngôi băm thái thủ công, giảm sức lao động.

Mô hình nuôi cá trê lai trong bể xi măng tại Phú Yên sử dụng Máy thái cá 3A

Cám viên cũng là nguồn thức ăn quan trọng trong kỹ thuật nuôi cá trê. Tuy nhiên mua cám cám công nghiệp trên thị trường giá cả đắt đỏ, lên xuống thất thường. Thập chí cám bán qua đại lý nên không thể kiểm tra được chất lượng, chất cấm. Như vậy bà con sẽ phải chịu sức ép từ giá cả và chất lượng đầu ra.

Để khắc phục tình trạng đó, người nuôi, đặc biệt là các mô hình nuôi rộng nên sử dụng các loại hạt ngũ cốc như thóc, ngô, đậu… nghiền nhỏ, phối trộn với nhau và với chế phẩm sinh học theo một tỉ lệ nhất định, dùng máy ép cám viên nổi để ép thành cám viên nuôi cá trê lai.

Cám viên nổi tự sản xuất là loại cảm dành riêng trong chăn nuôi thủy sản. Với ưu điểm nổi được trên mặt nước nên khi cho xuống bể xi măng, đàn cá trê sẽ dễ ăn, ăn hết. Đồng thời giảm tối đa tác động của thức ăn với nguồn nước trong bể.Nguồn thức ăn tự sản xuất có thể dự trữ trong một thời gian ngắn. Bao đựng cám viên nổi cần được kê cao khỏi mặt đất tránh ẩm mốc, để nơi khô ráo, thoáng mát, tránh tác động trực tiếp của ngoại cảnh.

Liều lượng cho ăn:

  • Tháng nuôi đầu tiên: Thức ăn tươi sống sẽ chiếm 20 – 30% tổng trọng lượng đàn cá. 
  • Tháng thứ 2: Thức ăn tươi sống chiếm 10 – 20% tổng trọng lượng đàn cá. 
  • Tháng thứ 3  – 4: Thức ăn tươi sống chiếm 10 – 15% tổng trọng lượng đàn cá trê.
  • Tháng thứ 5 – 6: Khẩu phần thức ăn tươi sống chiếm khoảng 5% trọng lượng thân.

Cám viên nổi cho ăn hàng ngày với tỉ lệ từ 5 – 7 % tổng trọng lượng đàn cá trong bể xi măng.

Phân gà cũng là một nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho cá trê mà bà con có thể tự sản xuất. Phân gà có thể cho ăn trực tiếp, tuy nhiên để giảm ô nhiễm, giảm khí độc, bà con lấy phân gà nuôi kết hợp trùn quế trong thùng xốp hoặc thùng nhựa nhỏ. Thu hoạch trùn quế vừa được phân gà vừa được giun quế cho trê ăn, sẽ rất nhanh lớn.

Nuôi cá trê trong bể xi măng: Cá trê là loài ăn tạp

Cá trê là loài ăn tạp, dễ nuôi

Một ngày bà con cho cá ăn 2 lần vào sáng sớm và chiều mát. Hàng ngay sau khi cho ăn bà con nên kiểm tra, theo dõi lượng thức ăn còn dư lại để điều chỉnh cho phù hợp, tránh lãng phí. 

Tuy cá trê là loài ăn tạp nhưng khi nuôi thương phẩm, bà con không được cho cá ăn thức ăn ôi thiu, ẩm ốc, thức ăn dư thừa… sẽ gây bệnh cho cá, làm ô nhiễm nước trong bể nuôi.

Quản lý và chăm sóc

Nuôi cá trê trong bể xi măng tại nhà dễ quản lý. Hơn nữa việc quây lưới và lợp mái xung quanh bể nên hạn chế được những tác động từ ngoại cảnh. Đây là ưu điểm vượt trội hơn hẳn so với mô hình nuôi cá trê trong ao bùn thông thường.

Ngoài ra, bản thân cá trê đã có sức chịu đựng cao với môi trường xung quanh nên công tác quản lý và chăm sóc khá nhàn hạ. Tuy nhiên không vì thế mà chủ quan, bà con vẫn cần nắm được những kỹ thuật chăm sóc cá trê trong bể xi măng.

Mặc dù cá trê có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống ở múc oxy thấp hơn so với các loại thủy sản khác, tuy nhiên nếu nước bể bị ô nhiễm cá sẽ chậm lớn, đồng thời dễ phát sinh dịch bệnh gây hại. Vì vậy khi nuôi, bà con phải định kỳ thay nước bể xi măng khoảng 5 – 7 ngày thay một lần.

Nuôi cá trê trong bể xi măng: thay nước định kỳ cho cá trê

Cần chú ý thay nước định kỳ cho cá trê

Thay nước kết hợp với bón một số chế phẩm sinh học để cải tạo môi trường nước trong bể xi măng, hạn chế dịch bệnh phát sinh.

Nếu thực hiện đúng các kỹ thuật nuôi cá trê trong bể xi măng, cá có thể đạt quy cỡ như sau:

  • Nuôi từ 3 – 4 tháng đạt trên 200  – 300gram/con
  • Nuôi từ 5 – 6 tháng đạt trên 400 – 500gram/con
  • Nuôi 8 – 10 tháng đạt trên 600 – 800gram/con

Đối với cá trê vàng lai và cá trê phi, thời gian nuôi và khả năng tăng trưởng còn được rút ngắn hơn rất nhiều. Thậm chí chỉ sau 3 – 4 tháng nuôi bà con đã có thể thu hoạch. Vì quy trình “vỗ béo” sử dụng cám viên nổi có nguồn gốc từ thực vật, các chế phẩm vi sinh an toàn nên thịt không bị bở mà vẫn ngọt, dai, cạnh tranh tốt trên thị trường. 

Thu hoạch

Không chỉ dễ chăm sóc quản lý mà mô hình nuôi cá trê trong bể xi măng còn giảm bớt nhiều công sức cho bà con trong quá trình thu hoạch.

Bà con có thể đánh tỉa những con to hoặc thu hoạch hết một lượt. Có thể dùng phương pháp thả ống, tháo cạn nước trong bể nuôi hoặc dùng lưới đánh.

Nuôi cá trê trong bể xi măng: Thu hoạch cá trê

Thu hoạch cá trê

Chú ý trong quá trình thu hoạch cần phải tiến hành nhẹ nhàng, tránh làm cá bị trầy xước làm giảm chất lượng giá thành.

Phòng và xử lý một số bệnh thường gặp

Biện pháp phòng bệnh

Trong suốt quá trình chăm sóc, bà con cần chủ động ngăn ngừa dịch bệnh để tránh tốn kém, rủi ro và tổn thất trong quá trình nuôi. Một số biện pháp cụ thể như sau:

  • Bể nuôi cần được xử lý đúng kỹ thuật trước khi thả giống.
  • Thay nước thường xuyên, tránh để nước bị ô nhiễm.
  • Không nuôi ở mật độ quá dày so với khuyến cáo được đưa a.
  • Theo dõi thường xuyên để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp.
  • Theo dõi hoạt động bơi lội của cá, kịp thời phát hiện dịch bệnh để chữa trị.

Các bệnh thường gặp và cách xử lý 

Bệnh thối vi, xuất huyết nội tạng và tiết nhờn ngoài da:

Biểu hiện: Trên phần da của cá trê bị tổn thương, có hiện tượng xuất huyết, để ý kỹ sẽ thấy vi bị thối, da cá có màu sẫm đen hơn. Trên thân và mang của cá có tiết chất nhờn, bơi lội không có định hướng, khó khăn hơn trong quá trình hô hấp

Nguyên nhân: Do ký sinh trùng như Costia, Vodinium, sán lá đơn chủ.

Cách xử lý: Rút nước trong bể nuôi đến mức tối thiểu đủ để cá có thể bơi để dễ quan sát. Sử dụng formalin nồng độ 30 – 50ppm (30 – 50g/m3), bà con tính toán lượng nước còn lại trong bể nuôi để pha thuốc.

Bệnh sưng mình, trướng bụng

Biểu hiện: Trên thân và các tia râu có biểu hiện xuất huyết, râu cong và quặp lại, bụng bị sưng, hai bên gốc vi ngực có hiện tượng nổi hành. Nếu không phát hiện sớm thì cá sẽ dần bỏ ăn, râu treo trên mặt nước, thân tiết và nhiều chất nhờn và chết rất nhanh.

Nguyên nhân: Do loại vi khuẩn có tên là Aeromonas và Cohumnaris gây ra. Nguồn nước trong bể nuôi bẩn, không được thay, xử lý thường cuyên.

Cách xử lý: Tiến hành thay nước 2 ngày một lần, mỗi lần thay khoảng 40% nước tránh để cá bị sốc.Có thể sử dụng chế phẩm sinh học để bón cho bể nuôi hoặc dùng vôi bột lượng 15 – 30kg/1000m2 và muối 120 – 200kg/1000m2, bà còn dựa vào liều lượng này để tính toán thả xuống bể nuôi cho phù hợp, tránh làm ảnh hưởng đến đàn cá. 

Bệnh vàng da

Biểu hiện: Trên da của của cá sẽ chuyển dần sang màu vàng nhạt, không được phát hiện kịp thời thì cá sẽ chết rất nhanh.

Nguyên nhân: Do thức ăn bị thối, hỏng, ôi thiu, mốc, nghèo nàn dinh dưỡng. Các loại cám viên không được bảo quản tốt lên nấm mốc.

Cách xử lý: Thay nước trong bể nuôi, thay khoảng 40% nước để cá không bị sốc. Ngưng cho chúng ăn trong khoảng 2 – 3 ngày.Dùng vôi liều lượng 15 – 30kg/1000m2 để bón cho bể nuôi.

Bệnh biến dạng đầu và toàn thân

Biểu hiện: Bệnh này dễ nhận biết do phần đầu bị méo mó, biến dạng, thân hình cong vẹo, nếu lật ngửa con cá sẽ thấy phần cổ ở giữa 2 vi ngực có hiện tượng xuất huyết.

Nguyên nhân: Do thiếu vitamin C và Premix khoáng

Cách xử lý: Duy trì 1g vitamin A/ 1kg thức ăn để bổ sung cho cá (dùng loại vitamin A chuyên dụng cho thú y, bán theo kg). Cho cá ăn liên tục từ 5 – 7 ngày.Bà con có thể bổ sung bảo công thức phối trộn thức ăn ép thành cám viên để vitamin không bị tan trong nước. 

Bệnh sán lá 16 móc

Biểu hiện: Thân cá chuyển sang màu đen, phần đuôi nhỏ, đầu thì to, lâu dần mang sẽ bị rụng, ăn ít, bơi chậm.

Nguyên nhân: Bệnh này do vi khuẩn Dactylogyrus gây ra.

Cách xử lý: Dùng nước muối pha loãng nồng độ 3% để tắm cho cá trê khoảng 3 – 5 phút.Sau đó dùng Dipterex 0,25 – 0,5g/m3 để phun trực tiếp cho đàn cá trong bể nuôi từ 1 – 2 ngày.

Đã có nhiều nông dân thành công với mô hình nuôi cá trê lai trong bể xi măng. Đây cũng là mô hình được các cấp chính quyền thí điểm ở nhiều địa phương, bước đầu thu được những kết quả tích cực. Hi vọng những kỹ thuật nuôi cá trê trong bể xi măng trên đây sẽ giúp bà con nuôi trồng hiệu quả, tạo thu nhập ổn định, nhân rộng quy mô hơn nữa trong thời gian tới. Chúc bà con thành công!

Video sử dụng Máy ép cám viên nổi 3A15Kw